Đối diện với sự phức tạp của thị trường vàng, nơi mà chênh lệch giữa giá vàng trong nước và trên thế giới ngày càng lớn, nhiều chuyên gia đánh giá rằng điều này có thể tạo ra những rủi ro, gây tác động tiêu cực đối với sự ổn định của thị trường tài chính, hệ thống tiền tệ, kinh tế tổng hợp, và tâm lý xã hội...
Theo đánh giá của các chuyên gia, Nghị định 24/2012 về quản lý hoạt động thị trường kinh doanh vàng ban hành năm 2012 đã đóng một vai trò quan trọng trong việc ổn định thị trường vàng, giải quyết nhiều vấn đề khác nhau tại thời điểm đó. Tuy nhiên, sau hơn 10 năm, các quy định chặt chẽ của Nghị định 24 ngày càng không còn phù hợp.
Trong bối cảnh này, GS.TS. Hoàng Văn Cường, đại biểu Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội đã đưa ra ý kiến rằng những quy định như việc Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, lựa chọn thương hiệu SJC làm thương hiệu vàng quốc gia, cấm nhập khẩu vàng… đã tạo ra sự hạn chế đáng kể đối với nguồn cung vàng trong nước.
Kinh doanh vàng mà chưa gắn với điều chỉnh nguồn cung thì chưa xử lý được vấn đề chênh lệch giá (Ảnh minh họa)
"Tâm lý của người dân Việt Nam liên quan đến việc tích trữ nhằm đảm bảo an toàn và phòng tránh rủi ro. Trong bối cảnh việc tích lũy là cần thiết, vàng miếng trở thành sự chọn lựa phổ biến vì được xem là vàng tích lũy, đặc biệt là vàng SJC, được xác định là thương hiệu vàng quốc gia. Do đó, người dân tự nhiên sẽ lựa chọn vàng có uy tín nhất để tích lũy. Tình trạng cung không đồng bộ với cầu cần thiết đã dẫn đến mất cân đối giữa cung và cầu, gây ra sự tăng giá vàng," GS.TS. Hoàng Văn Cường phân tích.
Vì sự chênh lệch giá lớn và nguồn cung hạn chế, tình trạng buôn lậu vàng đã trở nên phức tạp, tạo ra nhiều hệ lụy như sự mất thu nhập từ thuế, sự mất nguồn ngoại tệ, và ảnh hưởng đến quản lý tỷ giá... Do đó, cần thay đổi nhiều điều kiện quan trọng trong Nghị định 24.
Lấy kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới, ông Nguyễn Thế Hùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam, chia sẻ: "Theo tiêu chuẩn quốc tế, vàng thường được coi là một loại hàng hóa. Quy định chia thành hai loại chính là vàng vật chất và vàng phi vật chất. Vàng vật chất bao gồm vàng thỏi, vàng miếng, đồng tiền vàng, trang sức, trong khi vàng phi vật chất bao gồm vàng tài khoản và các chứng chỉ vàng phổ biến trên thị trường. Thường thì các ngân hàng trung ương của các quốc gia ít khi quản lý trực tiếp việc kinh doanh vàng, vì họ xem vàng là một loại hàng hóa thông thường. Các cơ quan như Bộ Thương mại hoặc Bộ Kinh tế thường đảm nhận trách nhiệm quản lý vàng... Ngân hàng trung ương thì chủ yếu quản lý ngoại hối và dòng tiền ngoại tệ."
Ông Nguyễn Thế Hùng nhấn mạnh rằng chủ trương của Ngân hàng Nhà nước không khuyến khích người dân mua và tích trữ vàng miếng là hoàn toàn phù hợp. Ông cũng đề xuất: "Đã đến lúc Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp có đủ khả năng và điều kiện sản xuất vàng trang sức, có nguồn nguyên liệu chính thức để đáp ứng nhu cầu của người dân; đồng thời, cần đảm bảo sự liên thông giữa thị trường trong nước và thế giới để giảm thiểu những vấn đề hiện nay trên thị trường trong nước."
Ông Nguyễn Việt Anh đồng tình với quan điểm này, cho rằng nếu kinh doanh vàng không được kết hợp với việc điều chỉnh nguồn cung, vấn đề chênh lệch giá sẽ không được giải quyết. Do đó, cần mở rộng phạm vi từ phía nguồn cung.
Ông Nguyễn Việt Anh nói: "Về phía cầu, thực tế nhu cầu mua vàng để lưu trữ tại nhà không nhiều, trong khi nhu cầu đầu tư chiếm đa số. Vì vậy, việc này nên được chuyển giao cho thị trường tài chính. Đối với những người đầu tư, họ thường mua và bán vàng theo nhu cầu của họ. Tuy nhiên, do không có lựa chọn nào khác, nhu cầu này chủ yếu hướng về vàng vật chất, tạo ra các chi phí và đòi hỏi nguồn cung ngoại tệ để nhập khẩu. Nếu có các công cụ giao dịch vàng phi vật chất, áp lực lên thị trường vàng vật chất sẽ giảm đi."
GS.TS Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng khoa học và đào tạo, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng trong bối cảnh mới, cần thay đổi tư duy về cách quản lý thị trường vàng. Ông đề xuất nghiên cứu để biến thị trường vàng thành một phần hữu cơ của thị trường tài chính, thúc đẩy quản lý thị trường mở, minh bạch, hiệu quả và tập trung nguồn lực lớn vào phát triển kinh tế.
"Chúng ta có thể học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế bằng cách cho phép vàng tham gia giao dịch kỳ hạn trên sàn, tương tự như các hàng hóa khác, với điều kiện rằng các thành viên tham gia đáp ứng các tiêu chuẩn phù hợp. Đồng thời, có thể thành lập quỹ tín thác ETF vàng, giúp người dân đầu tư mà không cần phải sở hữu vàng vật chất", GS.TS Trần Thọ Đạt khuyến nghị.
Các chuyên gia cũng đề xuất việc thành lập Sàn Giao dịch Vàng để quản lý thị trường vàng một cách minh bạch và hiệu quả, theo xu hướng quốc tế. GS.TS. Hoàng Văn Cường chia sẻ ý kiến rằng, một sàn giao dịch như vậy sẽ giúp thúc đẩy quá trình mua bán vàng trên thị trường và trở thành công cụ điều hoà thị trường. Đây cũng là cơ hội để phát triển mô hình kinh doanh và tạo ra các cơ hội kinh doanh mới trong lĩnh vực tài chính vàng.
"Với việc thiết lập Sàn giao dịch vàng, tâm lý của người dân sẽ trở nên linh hoạt hơn; họ có thể mua và bán vàng trực tiếp trên sàn, cũng như sở hữu chứng chỉ vàng. Vàng của tôi có thể được giao dịch trên sàn, giảm bớt nhu cầu lưu trữ vàng trong két sắt. Điều này sẽ thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong thị trường và tạo điều kiện cho mua bán. Không cần phải chờ đợi vàng được nhập khẩu từ thị trường thế giới để đúc thành miếng và bán. Thay vào đó, chúng ta có thể sử dụng vàng có sẵn trên thị trường, kèm theo việc sử dụng các công cụ phái sinh như hợp đồng bán vàng, giúp thị trường phản ứng linh hoạt", GS.TS. Hoàng Văn Cường mô tả thêm.
Theo ông Cường, phát triển thị trường vàng phi vật chất với đa dạng sản phẩm và các công cụ phái sinh là hợp lý để điều hòa thị trường, tạo cơ hội kinh doanh và tài chính mới. Tuy nhiên, để thực hiện điều này, cần có một khung pháp lý đầy đủ và minh bạch.
Theo đánh giá của các chuyên gia, Nghị định 24/2012 về quản lý hoạt động thị trường kinh doanh vàng ban hành năm 2012 đã đóng một vai trò quan trọng trong việc ổn định thị trường vàng, giải quyết nhiều vấn đề khác nhau tại thời điểm đó. Tuy nhiên, sau hơn 10 năm, các quy định chặt chẽ của Nghị định 24 ngày càng không còn phù hợp.
Trong bối cảnh này, GS.TS. Hoàng Văn Cường, đại biểu Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội đã đưa ra ý kiến rằng những quy định như việc Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, lựa chọn thương hiệu SJC làm thương hiệu vàng quốc gia, cấm nhập khẩu vàng… đã tạo ra sự hạn chế đáng kể đối với nguồn cung vàng trong nước.

Kinh doanh vàng mà chưa gắn với điều chỉnh nguồn cung thì chưa xử lý được vấn đề chênh lệch giá (Ảnh minh họa)
"Tâm lý của người dân Việt Nam liên quan đến việc tích trữ nhằm đảm bảo an toàn và phòng tránh rủi ro. Trong bối cảnh việc tích lũy là cần thiết, vàng miếng trở thành sự chọn lựa phổ biến vì được xem là vàng tích lũy, đặc biệt là vàng SJC, được xác định là thương hiệu vàng quốc gia. Do đó, người dân tự nhiên sẽ lựa chọn vàng có uy tín nhất để tích lũy. Tình trạng cung không đồng bộ với cầu cần thiết đã dẫn đến mất cân đối giữa cung và cầu, gây ra sự tăng giá vàng," GS.TS. Hoàng Văn Cường phân tích.
Vì sự chênh lệch giá lớn và nguồn cung hạn chế, tình trạng buôn lậu vàng đã trở nên phức tạp, tạo ra nhiều hệ lụy như sự mất thu nhập từ thuế, sự mất nguồn ngoại tệ, và ảnh hưởng đến quản lý tỷ giá... Do đó, cần thay đổi nhiều điều kiện quan trọng trong Nghị định 24.
Lấy kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới, ông Nguyễn Thế Hùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam, chia sẻ: "Theo tiêu chuẩn quốc tế, vàng thường được coi là một loại hàng hóa. Quy định chia thành hai loại chính là vàng vật chất và vàng phi vật chất. Vàng vật chất bao gồm vàng thỏi, vàng miếng, đồng tiền vàng, trang sức, trong khi vàng phi vật chất bao gồm vàng tài khoản và các chứng chỉ vàng phổ biến trên thị trường. Thường thì các ngân hàng trung ương của các quốc gia ít khi quản lý trực tiếp việc kinh doanh vàng, vì họ xem vàng là một loại hàng hóa thông thường. Các cơ quan như Bộ Thương mại hoặc Bộ Kinh tế thường đảm nhận trách nhiệm quản lý vàng... Ngân hàng trung ương thì chủ yếu quản lý ngoại hối và dòng tiền ngoại tệ."
Ông Nguyễn Thế Hùng nhấn mạnh rằng chủ trương của Ngân hàng Nhà nước không khuyến khích người dân mua và tích trữ vàng miếng là hoàn toàn phù hợp. Ông cũng đề xuất: "Đã đến lúc Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp có đủ khả năng và điều kiện sản xuất vàng trang sức, có nguồn nguyên liệu chính thức để đáp ứng nhu cầu của người dân; đồng thời, cần đảm bảo sự liên thông giữa thị trường trong nước và thế giới để giảm thiểu những vấn đề hiện nay trên thị trường trong nước."
Ông Nguyễn Việt Anh đồng tình với quan điểm này, cho rằng nếu kinh doanh vàng không được kết hợp với việc điều chỉnh nguồn cung, vấn đề chênh lệch giá sẽ không được giải quyết. Do đó, cần mở rộng phạm vi từ phía nguồn cung.
Ông Nguyễn Việt Anh nói: "Về phía cầu, thực tế nhu cầu mua vàng để lưu trữ tại nhà không nhiều, trong khi nhu cầu đầu tư chiếm đa số. Vì vậy, việc này nên được chuyển giao cho thị trường tài chính. Đối với những người đầu tư, họ thường mua và bán vàng theo nhu cầu của họ. Tuy nhiên, do không có lựa chọn nào khác, nhu cầu này chủ yếu hướng về vàng vật chất, tạo ra các chi phí và đòi hỏi nguồn cung ngoại tệ để nhập khẩu. Nếu có các công cụ giao dịch vàng phi vật chất, áp lực lên thị trường vàng vật chất sẽ giảm đi."
GS.TS Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng khoa học và đào tạo, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng trong bối cảnh mới, cần thay đổi tư duy về cách quản lý thị trường vàng. Ông đề xuất nghiên cứu để biến thị trường vàng thành một phần hữu cơ của thị trường tài chính, thúc đẩy quản lý thị trường mở, minh bạch, hiệu quả và tập trung nguồn lực lớn vào phát triển kinh tế.
"Chúng ta có thể học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế bằng cách cho phép vàng tham gia giao dịch kỳ hạn trên sàn, tương tự như các hàng hóa khác, với điều kiện rằng các thành viên tham gia đáp ứng các tiêu chuẩn phù hợp. Đồng thời, có thể thành lập quỹ tín thác ETF vàng, giúp người dân đầu tư mà không cần phải sở hữu vàng vật chất", GS.TS Trần Thọ Đạt khuyến nghị.
Các chuyên gia cũng đề xuất việc thành lập Sàn Giao dịch Vàng để quản lý thị trường vàng một cách minh bạch và hiệu quả, theo xu hướng quốc tế. GS.TS. Hoàng Văn Cường chia sẻ ý kiến rằng, một sàn giao dịch như vậy sẽ giúp thúc đẩy quá trình mua bán vàng trên thị trường và trở thành công cụ điều hoà thị trường. Đây cũng là cơ hội để phát triển mô hình kinh doanh và tạo ra các cơ hội kinh doanh mới trong lĩnh vực tài chính vàng.
"Với việc thiết lập Sàn giao dịch vàng, tâm lý của người dân sẽ trở nên linh hoạt hơn; họ có thể mua và bán vàng trực tiếp trên sàn, cũng như sở hữu chứng chỉ vàng. Vàng của tôi có thể được giao dịch trên sàn, giảm bớt nhu cầu lưu trữ vàng trong két sắt. Điều này sẽ thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong thị trường và tạo điều kiện cho mua bán. Không cần phải chờ đợi vàng được nhập khẩu từ thị trường thế giới để đúc thành miếng và bán. Thay vào đó, chúng ta có thể sử dụng vàng có sẵn trên thị trường, kèm theo việc sử dụng các công cụ phái sinh như hợp đồng bán vàng, giúp thị trường phản ứng linh hoạt", GS.TS. Hoàng Văn Cường mô tả thêm.
Theo ông Cường, phát triển thị trường vàng phi vật chất với đa dạng sản phẩm và các công cụ phái sinh là hợp lý để điều hòa thị trường, tạo cơ hội kinh doanh và tài chính mới. Tuy nhiên, để thực hiện điều này, cần có một khung pháp lý đầy đủ và minh bạch.
Chỉnh sửa lần cuối: